“Nghệ
sĩ giỏi sẽ sao chép, còn nghệ sĩ vĩ đại sẽ biết cách ăn cắp” – Pablo Picasso.
Triết lý trong câu nói của danh họa người Tây Ban Nha là “không có gì mới dưới
ánh mặt trời” và không nơi đâu minh bạch và rõ ràng bằng chốn thương trường.
Theo giáo sư Oded Shenkar tại trường đại học bang Ohio Fisher College of
Business, tác giả cuốn Copycats: How Smart Companies Use Imitation to Gain a
Strategic Edge, tỷ lệ sao chép thương hiệu trong một số khu vực hiện đã vượt mức
80%. Người ta bắt gặp nạn “đạo” và “cóp” từ món ngũ cốc ăn sáng, các ứng dụng
điện thoại cho đến thuốc chữa bệnh.
Và
nếu nhiều đơn vị dược phẩm có tiếng đã nhập cuộc trào lưu này thì những doanh
nghiệp mới chân ướt chân ráo cũng xem đây là một việc làm chính đáng và có thể
chấp nhận được. Thế nhưng, để rũ bỏ tiếng xấu “ăn cắp”, những người kinh doanh
cũng phải biết cách bắt chước lối tư duy của những người đi trước mà nói như
Shenkar, chính là “một quá trình phức tạp, đòi hỏi nhiều chất xám và có thể đó
là một cách làm thông minh”.
1.
Lấp đầy chỗ trống
26
năm vể trước, Michael Madigan, một chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin
chuyển từ New York đến sống tại Portland. Tại nơi ở mới, Madigan không tài nào
tìm thấy những chiếc bánh mì vòng truyền thống của người Do Thái, và thế đó là
anh tự học cách làm bánh. Năm 2006, Madigan mất đất kinh doanh khi đơn vị
Kettleman Bagel Company mở các cửa hàng chuyên bán bánh mì vòng. Tuy nhiên, khi
Kettleman bị Einstein Noah Restaurant Group mua lại vào tháng 11/2011 khiến công
thức làm bánh truyền thống thay đổi, một cơ hội mới đã mở ra trước mắt
Madigan.
Khả
năng phân loại, nắm bắt và giải quyết vấn đề chính là vô cùng cần thiết đối với
những người kinh doanh muốn bắt chước bậc tiền bối. Vốn đó là một kỹ sư công
nghệ thông tin, Madigan sở hữu đầy đủ những kỹ năng này. Khi rời bỏ công việc
tại IBM, anh tự nhủ phải tìm kiếm những cơ hội mới, đó cùng là một lý do thôi
thúc Madigan và vợ tạo dựng nên KitchenCru để đầu tư vào những ngành kinh doanh
đầy hứa hẹn.
Biết
được những người dân bản địa Portland chỉ ưa thích loại bánh mì truyền thống hảo
hạng, Madigan đã quyết tâm cho ra đời thương hiệu bánh mì KitchenCru vào tháng
2/1011. Tại gian bếp rộng hơn 300 m2 của KitchenCru, Madigan cùng hơn 30 nhân
công đã mở rộng quy mô sản xuất lên 500 chiếc bánh và dự định sẽ bán buôn thay
vì bán lẻ. Tuy nhiên, để thu hút sự chú ý của khách hàng , ông chủ Madigan đã mở
những buổi giới thiệu và bán sản phẩm vào mỗi thứ 7 hàng tuần. Vô số đơn đặt
hàng được gửi đến và chỉ bốn tháng sau, siêu thị Bowery Bagels đầu tiên đã khai
trương.
Hiện
nay, Bowery đang tìm kiếm thêm hai địa điểm bán lẻ nữa và sẽ sớm mở thêm một
xưởng làm bánh mới với diện tích rộng hơn để tăng năng suất lên 9.000 chiếc bánh
mì vòng mỗi ngày. Chỉ trong một thời gian ngắn, Bowery đã trở thành thương hiệu
bánh mì được ưa chuộng tại thành phố Portland và gây tiếng vang trên những tạp
chí danh tiếng như Food Network hay The New York Times.
Thành
công của Bowery không chỉ đó là làm mới một món ăn khi mà bất cứ một thương hiệu
bánh mì nào cũng phải sử dụng những loại nguyên liệu giống nhau. chính là cách
người thợ làm bánh biến hóa những nguyên liệu, trình bày chúng thật đẹp mắt và
hướng đến đúng đối tượng khách hàng . Nói cách khác, đó là khi bạn nhìn thấy một
chỗ trống và tìm cách lấp đầy nó.
2.
Tạo một dư vị riêng
Gia
đình Gamber ở Lancaster, Pennsylvania đã kinh doanh mật ong ba đời nay, bắt đầu
từ Ralp Gamber, người sáng lập đơn vị mật ong Dutch Gold Honey lớn nhất nước Mỹ
cho đến Bill Gamber, người đồng sáng lập thương hiệu Honey Stinger chuyên sản
xuất các sản phẩm dinh dưỡng từ mật ong.
Vốn
đó là một vận động viên thể thao, Bill Gamber đã nhìn thấy cơ hội kinh doanh
trong ngành thực phẩm giàu năng lượng đang bị chi phối bởi những thương hiệu lớn
như PowerBar hay Clif Bar. Bí quyết thu hút người tiêu dùng của Gamber chỉ đơn
giản đó là tạo ra những sản phẩm sử dụng mật ong thật với vị ngon khó chối từ và
dễ tiêu hóa hơn đó là những đồ ăn sử dụng nhiều chất phụ gia thực
phẩm.
Theo
giáo sư Shenkar, cách một đơn vị thâm nhập ngành muộn hơn các đối thủ cạnh tranh
khác cho ra đời sản phẩm vào bối cảnh thích hợp là yếu tố sống còn của thành
công. Trong trường hợp của Honey Stinger, mặc dù đã có mặt trên ngành hơn 10 năm
song công ty đã thận trọng hạn chế việc sản xuất thực phẩm dành cho vận động
viên thi đấu ngoài trời và thực phẩm tự nhiên mà chú tâm vào việc xây dựng lượng
bạn hàng trung thành và tìm kiếm nhu cầu lớn hơn từ đó. Bởi vậy, các sản phẩm
của Honey Stinger dù có khu vực riêng song lại đi từ những khu chợ bán đồ dùng
thể thao cho đến những siêu thị tạp hóa như Whole Foods Market để đến với bạn
hàng .
Mới
đây Honey Stinger cho ra mắt món bánh quế độc đáo Stinger Waffle dành cho các
vận động viên thể thao. Tay đua Lance Armstrong trong chuyến đua xe đạp quanh
châu Âu đã phát hiện ra loại bánh ngọt tương tự và đem ý tưởng này tới Honey
Stinger, nhờ đó những chiếc bánh quế hương vị mật ong giàu năng lượng này mới có
mặt trên lĩnh vực .
Sau
một thập kỷ lu mờ trước thành công của những thương hiệu kẹo, sô cô la, giờ đây
Honey Stinger đã quay trở lại vai trò dẫn đầu. Và nếu món bánh quế ngày càng bán
chạy trên thị trường , những sản phẩm bắt chước chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện
cạnh tranh với Stinger Waffle
3.
Linh hoạt và nhanh nhạy
Khi
anh em Tracey và Tim Canaday bắt đầu làm những chiếc ván trượt tuyết vào năm
1991 ở Colorado, họ không hề hay biết 18 năm sau họ đã trở thành những ông chủ
lớn. Bước đường khởi nghiệp của họ cũng đi theo motif thường gặp: mắc nợ, vay
tiền từ bạn bè và gia đình, lái chiếc Honda Civic chào hàng quanh thành
phố.
Tracey
hồi tưởng lại buổi bắt đầu của doanh nghiệp Never Summer “Tôi tới những cửa hàng
có tiếng và nhiều người tỏ ý thích thú những chiếc ván trượt tự chế, song phần
lớn đều tỏ ra hoài nghi về cách chúng tôi cạnh tranh với các đối thủ khác. Tôi
nói, chúng tôi có một vài thứ khác lạ muốn cho mọi người xem.”
“Một
vài thứ” mà Tracey nói tới chính là những chiếc ván trượt tuyệt vời được xuất
xưởng từ nhà máy ở Denver nơi chất lượng và sự đa dụng của sản phẩm rất quan
trọng đối với bản sắc của công ty .
Bốn
năm về trước, Never Summer làm mới những sản phẩm của họ chỉ trong một thời gian
ngắn sau khi các đối thủ lớn trên lĩnh vực đã bước vào sản xuất các mặt hàng mới
cho mùa tiếp theo. Tại hội chợ thương mại năm 2008 nơi những chiếc ván trượt
tuyết của năm tiếp sau được trưng bày và bán, Tim đã cho ra mắt thiết kế “rocker
and camber” giúp người chơi môn thể thao này cảm thấy dễ dàng hơn.
Một
năm sau, sau khi những thương hiệu lớn “học lỏm” ý tưởng của Tim, doanh số của
những chiếc ván trượt rocker-camber tăng vọt. Năm 2012, ván trượt của Never
Summer chiếm tới 70% sản phẩm bán ra trên thị trường . Doanh thu hàng năm của
Never Summer này vào khoảng 10 triệu USD. Gần 15% trong số đó xuất phát từ tiền
những thương hiệu địa phương trả để thuê Never Summer sản xuất ván trượt số
lượng nhỏ.
Linh
hoạt và nhanh nhạy – những phẩm chất tối quan trọng đối với những kẻ hậu bối
“học lỏm” ý tưởng đã giúp Never Summer đi lên từ một công ty nhỏ ở Colorado trở
thành một trong những thương hiệu hàng đầu. Anh em nhà Canaday vẫn sẽ tiếp tục
sáng tạo ra những thiết kế mới và cải tiến mới. Có thể họ không sáng tạo ra
chiếc ván trượt tuyết đầu tiên, song cách thức kinh doanh và cơ sở hạ tầng đã
giúp anh em Canaday xây dựng một cơ nghiệp rất đáng để bắt
chước.
0 nhận xét | Viết lời bình