Kể
chuyện không chỉ đó là cách để kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai mà còn
là cách thức lan truyền cảm xúc giữa con người với con người. Marketing bằng kể
chuyện (Storytelling Marketing) đang được nhiều nhãn hàng sử dụng trong các
chiến dịch xây dựng thương hiệu.
Khi
nhân loại còn đang sống trong mông muội của thời kỳ tiền sử, những người đàn
ông, đàn bà hàng ngày phải mưu sinh trong sự khắc nghiệt của tự nhiên, cùng săn
bắt, hái lượm và đêm về quây quần trong hang đá bên ánh lửa bập bùng. Ngồi
bên nhau, họ bắt đầu kể những câu chuyện về ngày lao động vất vả, những
rủi ro hay vận may bất ngờ... và gán chúng cho ý chí của thần linh và tổ
tiên. Những thần thoại, truyền thuyết, những bản trường ca dần được hình
thành, phát triển qua thời gian và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác. Những câu chuyện lan tỏa tạo ra sự kết nối những nhóm người, những thị
tộc, bộ lạc... khơi nguồn cho sự hình thành các tôn giáo, chính trị và văn
hóa.
Trở
lại hiện tại, với các nhà văn hóa, khảo cổ ngày nay, những câu chuyện quá khứ
có thể sẽ đó là cơ sở quan trọng cho những khám phá mới về lịch sử. Còn với
marketer, đó lại là những ví dụ "thuần túy" nhất về storytelling, là bài học
sơ khai về kết nối.
Storytelling
Marketing - kết nối cảm xúc
Storytelling
là hình thức marketing dựa trên việc xây dựng, phát triển và lan tỏa những câu
chuyện lý thú, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương hiệu sản
phẩm hay hình ảnh của hãng. Nhiều người coi sự phát triển của quảng cáo
nhiều tập (commercial serial) trên hệ thống truyền hình phương Tây cuối
những năm 1980, đầu những năm 1990 chính là một mốc phát triển quan trọng
của hình thức này.
Trong
cuốn sách Storytelling, Branding in Practice do Springer xuất bản năm 2005,
nhóm tác giả cho rằng "kể chuyện" đó là phương thức quan trọng để xây dựng
thương hiệu. Một thương hiệu mạnh phải được tạo dựng trên những giá trị rõ
ràng và phải tạo ra sự kết nối cảm xúc với khách hàng . Trong khi đó,
marketing kể chuyện có thể tác động tới cảm xúc và giúp nhóm mục tiêu hiểu
được những giá trị mà marketer muốn tạo ra."Kể chuyện chính là cách duy nhất
chúng ta có thể tạo ra ý nghĩa cho đời mình và cảm nhận thế giới" - đạo diễn
Paul Auster có quá lời không khi nói như vậy?
Kể
chuyện hay tâm sự
Với
sự phát triển của công nghệ thông tin, vai trò kể chuyện của những marketer đã
thay đổi rõ rệt. Sự phát triển của mạng xã hội đã giúp hình thành những cộng
đồng trực tuyến, những "bộ lạc thành thị", phương tiện mới và cũng chính là
thách thức mới cho các marketer đang theo đuổi chiến dịch storytelling. Không
còn là sự lưu hành một chiều, blogger hay thành viên giờ đây có thể phản hồi
lại chiến dịch của marketer thông qua góp ý, bầu chọn, bình luận... khiến
storytelling càng có sức lan tỏa rộng rãi. Không chỉ chính là kể chuyện, đó
đã đó là đối thoại và xa hơn đó là tâm sự hai chiều giữa marketer và nhóm bên
đặt hàng mục tiêu.
Ngày
8.1.2003, thời điểm gần mùa Valentine năm đó, thương hiệu cà phê Starbucks đã
mở một cuộc thi kể chuyện trên trang web starbucks.com. Những người tham gia
đã gửi lên trang web những bài viết khoảng 250 từ kể về việc "làm thế nào họ
tìm được tình yêu tại những quán cà phê Starbucks", phần thưởng cho tác giả có
câu chuyện hay nhất đó là một chuyến du lịch tới Vienna, Áo.
Hơn
sáu năm sau, trước mùa Valentine 2009 tại Việt Nam, một chiến dịch marketing
được Unilever tung ra ít nhiều mang dáng dấp của storytelling với thương hiệu
Pond′s. là series gồm năm đoạn phim quảng cáo kể lại câu chuyện "bảy ngày tìm
lại tình yêu", một mối tình "tay ba" khá giống với mô-típ phim truyền hình
Hàn Quốc đang tràn ngập tại Việt Nam. Để tạo sự tương tác với khán giả,
thương hiệu đã tận dụng tối đa những phương pháp giao tiếp trực tuyến như
bình luận, dự đoán diễn biến tiếp theo của câu chuyện trên trang web
7days2love.com...
Gần
đây storytelling đã được nhiều tên tuổi lớn tại Việt Nam áp dụng. Theo dõi
chiến dịch kể trên của Unilever, nhiều người sẽ nhớ lại chương trình "Cô Tấm
ngày nay" do nhãn hàng Rejoice (P&G) thực hiện cách đây hơn hai năm.
Câu
chuyện cảm động đi vào lòng người về hình ảnh một thiếu nữ rời xa quê nhà lên
thành phố lập nghiệp. Rejoice đã thực hiện một chiến dịch storytelling
thành công, khi xây dựng được những ấn tượng tốt đẹp về giá trị thân thiện
của thương hiệu và lôi kéo nhóm bạn hàng mục tiêu tham gia vào câu chuyện. Sức
lan tỏa của chiến dịch càng trở nên mạnh mẽ khi marketer mở chiến dịch PR lập
quỹ "Cô Tấm ngày nay" hỗ trợ cho những bạn gái trẻ xa nhà, đồng thời tài trợ
cho chương trình cùng tên trên sóng phát thanh VOV3 phục vụ cho nhu cầu tâm sự
và chia sẻ những câu chuyện thường nhật cho các thính giả nữ trẻ tuổi.
Lôi
kéo người tiêu dùng mục tiêu
Những
ví dụ trên cho thấy, thành bại của các chiến dịch storytelling phụ thuộc
nhiều vào khả năng lôi kéo người đặt hàng mục tiêu qua câu chuyện. Bối cảnh
câu chuyện có thể khác nhau, từ những "chuyện tình ảo" cho tới những nỗ lực
vươn lên có thực của người phụ nữ Việt, nhưng điểm chung của các câu chuyện
nói trên, đều là những kết thúc có hậu (happy-ending): sự trở lại với tình
yêu đích thực của đôi tình nhân (quảng cáo của Pond′s) hay bạn gái trẻ đã đạt
được vị trí xứng đáng trong xã hội (chiến dịch "Cô Tấm ngày nay" của
Rejoice).
Kết
thúc có hậu và hợp lý đóng vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin của bên
đặt hàng , tựa như việc nhãn hàng cam kết sẽ dành cho người tiêu dùng những
phần thưởng xứng đáng, sẵn sàng giúp họ đạt được những ước mơ, những mục tiêu
của cuộc đời nếu họ tin vào giá trị của thương hiệu.
Thách
thức lớn nhất cho các chiến dịch storytelling nhiều khi nằm ở vấn đề chi
phí. Những câu chuyện được dàn dựng công phu thường đòi hỏi đầu tư lớn do có
kịch bản dài, chuỗi phim quảng cáo nhiều phần nên cần phát sóng với tần suất
lặp lại lớn để khán giả không quên cốt truyện. Giải pháp được nhiều công ty
ưa chuộng hiện nay vẫn đó là kết hợp storytelling với viral marketing, biến
câu chuyện thành những con virus được lây lan trong thế giới trực tuyến...
Bên cạnh đó, còn đó là sự kết hợp giữa storytelling marketing với các chiến
dịch PR quy mô, với sự tham gia của các phương tiện truyền thông như báo điện
tử, truyền hình, truyền thanh, quảng cáo ngoài trời... để câu chuyện có sức
sống mạnh mẽ, ăn sâu vào cảm xúc của nhóm đối tượng.
Ngoài
những dự án thành công, thu hút được rất đông người tham gia và để lại những
dấu ấn xã hội mạnh mẽ, cũng có những câu chuyện dường như đã không đạt được
hiệu quả như mong muốn. Ví dụ trường hợp của cặp vợ chồng vải Andy và Lilly
trong chiến dịch marketing của nhãn hàng Comfort (Unilever). Có người cho rằng,
cốt truyện nhạt không có những nút thắt mở gây cấn cùng với hình ảnh "kỳ quái"
của các nhân vật chính là những nguyên nhân cơ bản khiến phần đông bên đặt
hàng mục tiêu thờ ơ với chiến dịch. Một câu chuyện có thể thành công ở nơi này
nhưng chưa chắc đã phù hợp với nền văn hóa ở nơi khác. Do đó, các marketer cần
có sự tinh tế khi lựa chọn cốt truyện và hình mẫu nhân vật cho mỗi chiến dịch
storytelling.
Nguyên
tắc G.R.E.A.T
Thành
công của các chiến dịch storytelling marketing phụ thuộc 05 nguyên tắc cơ
bản:
Glue:
sự kết nối thông điệp marketing với những gì bạn hàng cho là thật, những câu
chuyện hiệu quả chính là ở chỗ gắn chặt vào một nhóm niềm tin đặc thù, giữ vị
trí nền tảng với ngành mục tiêu
Reward
- phần thưởng: những
câu chuyện hay thường chứa những cam kết về phần thưởng xứng đáng như giảm cân,
thành công tài chính, an toàn,... Người chúng ta sẽ lắng nghe nếu bạn nói cho họ
biết những điều họ có thể đạt cho riêng ta , những gì sẽ tốt cho cuộc sống cá
nhân hay những gì sẽ giúp họ đạt ước mơ.
Đóng
vai trò quan trọng trong 5 nguyên tắc chính là Emotion - cảm xúc, sẽ là một câu
chuyện tuyệt vời nếu nó tác động mạnh vào những tình cảm sâu lắng nhất của người
nghe chứ không phải tư duy lý thuyết của họ
Authentic
- tin cậy: một
câu chuyện tốt trước hết phải chính là một câu chuyện đáng tin. Điều này không
đòi hỏi câu chuyện marketer lan truyền phải đảm bảo 100% là thật, mà nó cần được
xây dựng dựa trên những thực tế về thương hiệu, trên những giá trị có
thật
Target
- mục tiêu: thành
công của storytelling marketing chỉ có được nếu câu chuyện đợc phát triển phù
hợp với nhóm người nghe. Hiệu quả của chiến dịch phụ thuộc mức độ liên quan của
câu chuyện và để đảm bảo điều này, marketer cần phân đoạn cho được những nhóm
người chia sẻ sự tương đồng trong hành vi, quan điểm và cách
sống.
0 nhận xét | Viết lời bình